Quản lý tồn kho chuỗi cung ứng: 14 căn bệnh và phương thuốc chữa trị – phần 2

Bảng 1 dưới đây thể hiện toàn bộ 14 căn bệnh liên quan đến quản lý tồn kho
 

Bảng 1: Những căn bệnh liên quan đến quản lý tồn kho chuỗi cung ứng và triệu chứng

Căn bệnh

Triệu chứng

1.Không đo lường hiệu quả quản lý tồn kho chuỗi cung ứng

 

·   Các bộ phận, chi nhánh hoạt động tách biệt, không kết nối

·   Bộ đo lường không hoàn chỉnh

·   Hiệu quả hoạt động không được theo dõi thường xuyên

·   Không quan tâm đến việc theo dõi hiệu quả

2.Hiểu không đúng về dịch vụ khách hàng

·   Không đo lường thời gian đáp ứng đơn hàng

·   Không đo lường các yếu tố gây ra chậm trễ

·   Không theo dõi các trường hợp đặt hàng bị chậm trễ

3. Dữ liệu giao hàng không chính xác

·   Thông tin giao hàng không được theo dõi

·   Không đo lường tại điểm cuối cùng của chuỗi cung ứng

4. Thiếu hệ thống CNTT hiệu quả

·   Hệ thống thông tin không kết nối giữa các bộ phận

·   Cơ sở dữ liệu không thống nhất

5. Phớt lờ tác động của các yếu tố bất ổn

·   Không có tài liệu theo dõi các yếu tố gây biến động

·   Thông tin không chính xác về các yếu tố gây biến động

6. Chính sách dự trữ tồn kho đơn giản thái quá

·   Chính sách tồn kho không tính đến các yếu tố biến động

·   Chính sách tồn kho cứng nhắc

7. Phân biệt đối xử với khách hàng nội bộ

·   Không đo lường chất lượng dịch vụ khách hàng nội bộ

·   Coi thường khách hàng nội bộ

8. Phối hợp kém

·   Không có quy trình phối hợp giữa các bộ phận trong việc hoàn thành đơn hàng

·   Thiếu hệ thống thông tin chia sẻ giữa các bộ phận

9. Thiếu phương pháp phân tích phương thức vận chuyển

·   Không tính toán đến các yếu tố tồn kho và thời gian đáp ứng đơn hàng khi tính toán phương thức vận chuyển

10. Đánh giá không chính xác về chi phí tồn kho

·   Bỏ qua chi phí tồn kho liên quan đến hàng lỗi thời, hết hạn và chi phí hàng phải tái đóng gói, sửa chữa

11. Rào cản tổ chức

·   Hệ thống đo lường hiệu quả độc lập giữa các phòng ban

12. Quy trình tung sản phẩm không tính đến các yếu tố chuỗi cung ứng

·   Không tính đến các yếu tố trong chuỗi cung ứng khi thiết kế quy trình tung sản phẩm

·   Không tính đến các hoạt động cá biệt hóa theo vùng, theo quốc gia

13. Tách biệt quá trình thiết kế chuỗi cung ứng với các quyết định liên quan đến tồn kho

 

·   Các quyết định chuỗi cung ứng không tính đến yếu tố tồn kho và thời gian đáp ứng đơn hàng

14. Chuỗi cung ứng không toàn vẹn

 

·   Chỉ tập trung vào hoạt động bên trong doanh nghiệp

·   Hiểu không đúng về khách hàng cuối cùng

·   Thiếu cơ chế chia sẻ thông tin tồn kho giữa khách hàng và nhà cung cấp

Nguồn: Sloan Management Review 1992

 

..Và một số phương thuốc cơ bản

Đâu là phương thuốc hữu hiệu giúp doanh nghiệp giải quyết các căn bệnh trên? Dưới đây chúng tôi đưa một số chiến lược cơ bản mà nếu áp dụng doanh nghiệp sẽ có thể giải quyết đáng kể những vấn đề liên quan đến tồn kho.

 Thiết kế cho chuỗi cung ứng. Có rất nhiều tài liệu viết về thiết kế dành cho sản xuất, lắp ráp, chất lượng sản phẩm, hay tính năng sử dụng. Nhưng đã đến lúc chúng ta cần thêm một loại thiết kế quan trọng nữa là thiết kế cho chuỗi cung ứng. Ở đó sản phẩm không chỉ được thiết kế để phục vụ về tính năng sử dụng, mẫu mã, sự hấp dẫn mà còn phải tính đến khả năng giúp giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ trong chuỗi cung ứng.

Tích hợp thông tin trong chuỗi cung ứng. Kiểm soát hiệu quả chuỗi cung ứng đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin đồng bộ thông suốt giữa các bộ phận trong chuỗi. Ở đó cơ sở dữ liệu phải được đồng bộ hóa từ mua hàng, sản xuất đến logistics, phân phối. Các dữ liệu cơ bản bao gồm dự báo nhu cầu và đơn hàng, tình trạng tồn kho ở tất cả các điểm trong chuỗi, kế hoạch sản xuất, tình trạng ùn tắc trong chuỗi, kế hoạch giao hàng của nhà cung cấp, v.v… Điều rất mừng là hiện nay việc ứng dụng CNTT trong quản lý chuỗi cung ứng đang phát triển mạnh mẽ nên yêu cầu triển khai đồng bộ hóa thông tin không phải là thách thức với doanh nghiệp. Điều cốt lõi vẫn nằm ở tư duy của doanh nghiệp khi ứng dụng nó và khả năng đầu tư vào CNTT trong dài hạn.

Thiết kế lại cơ chế khuyến khích trong tổ chức. Phần lớn các doanh nghiệp đều có cơ chế khen thưởng trong từng phòng ban, từng nhóm. Tuy nhiên điều này lại không khuyến khích việc hợp tác giữa các phòng ban ấy. Để có thể đạt được hiệu quả và hiệu năng trên toàn bộ chuỗi cung ứng, doanh nghiệp cần tái thiết kế lại cơ chế khen thưởng theo hướng nhìn về mục tiêu chung hơn là mục tiêu riêng rẽ.

Triển khai hệ thống đo lường hiệu quả toàn bộ chuỗi cung ứng. Cơ chế khuyến khích và tổ chức mới cần được xây dựng trên bộ đo lường tổng thể chuỗi cung ứng. Bộ đo lường này cần được xây dựng trên quan điểm tổng thể; ví dụ, tồn kho phải được tính trên tổng tồn kho ở tất cả các giai đoạn và bộ phận, thời gian đáp ứng đơn hàng phải được xem xét trên tổng thời gian cần thiết để hoàn thành đơn hàng qua các bộ phận có liên quan.

Mở rộng tầm nhìn chuỗi cung ứng. Đó là việc chuỗi cung ứng không chỉ dừng ở nội bộ doanh nghiệp mà cần được mở rộng đến nhà cung cấp, đến nhà phân phối, bán lẻ, đại lý… cũng như hiểu rõ mô hình hoạt động chuỗi cung ứng của các đối tác này. Việc thấu hiểu chuỗi cung ứng mở rộng sẽ giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả và hiệu năng cao hơn.

Kết luận

Chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp hơn. Nhiều doanh nghiệp đang dần bị suy yếu bởi chính những căn bệnh mà chúng tôi phác họa ở trên. Chúng tôi hi vọng qua bài báo này các nhà quản trị chuỗi cung ứng có thể nhanh chóng đưa ra những giải pháp kịp thời để phòng ngừa và điều ấy cũng đồng nghĩa với cơ hội giúp doanh nghiệp đứng vững trên thương trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. 

Nguồn: http://supplychaininsight.vn 

*

*

Top