QUẢN LÝ TÌNH TRẠNG LƯU CHẤT

1.      Ba vấn đề trong quản lý tình trạng lưu chất

Hình 1: Biểu đồ thống kê chi phí

Thực tế cho thấy chi phí của việc bôi trơn và bảo trì là rất nhỏ so với chi phí cho năng lượng khi không thực hiện công việc bảo trì và bôi trơn đúng mức. Do đó cần phải đầu tư nhiều hơn cho việc bôi trơn và bảo trì máy để hệ thống có thể hoạt động hiệu quả hơn. Từ đó có thể giảm các tổn thất về chi phí cho năng lượng.

Chương trình quản lý lưu chất bao gồm công tác bảo trì và giám sát tình trạng, được thực hiện tốt sẽ đem lại những lợi ích sau:

            Giảm thời gian ngừng máy.

            Kéo dài tuổi thọ máy.

            Giảm chi phí nhân công.

            Giảm chi phí cho việc xử lý và loại bỏ chất bôi trơn.

Từ những thông tin của chương trình quản lý lưu chất có thể dự đoán và kiểm soát các hư hỏng. Thông thường những hoạt động của quản lý chất bôi trơn rơi vào một trong ba vấn đề sau:

– Vấn đề phân tích tình trạng lưu chất: liên quan đến việc kiểm tra tính chất lý hóa của lưu chất và đặc tính của các chất phụ gia để đảm bảo chất bôi trơn hoạt động phù hợp với hệ thống.

– Vấn đề giám sát tình trạng hệ thống: tập trung vào tình trạng hoạt động của máy. Ngay cả khi lưu chất ổn định thì hệ thống vẫn có thể xảy ra hư hỏng. Và những hư hỏng của hệ thống có xu hướng gia tăng theo cấp số nhân nếu không được giám sát. Về cơ bản, tình trạng của máy được giám sát thông qua việc giám sát và phân tích chất bôi trơn, bao gồm giám sát hạt, độ ẩm, độ nhớt, … Khoảng thời gian giám sát phụ thuộc vào khả năng của thiết bị giám sát và tình trạng hiện tại của hệ thống.

– Vấn đề phân tích mài mòn và hư hỏng: phân tích mài mòn và hư hỏng cho kết quả chẩn đoán nguồn gốc hư hỏng tốt nhất. Nếu người giám sát thiếu kỹ năng về phân tích hình dạng hạt mài mòn thì rất khó đưa ra những kết luận chính xác. Giám sát tình trạng lưu chất và hệ thống có thể làm giảm đến mức thấp nhất nhu cầu phân tích mài mòn và hư hỏng.

2.      Phương thức sử dụng dầu

Tất cả các loại dầu dù mới hay cũ đều có thể bị nhiễm bẩn từ môi trường bên ngoài. Nếu hệ thống vận chuyển và lưu trữ dầu không được đảm bảo thì chất nhiễm bẩn có thể xâm nhập và hòa lẫn vào trong dầu. Do đó, trước khi cung cấp dầu mới cho máy và thiết bị, cần phải kiểm tra để đảm bảo dầu có chất lượng tốt.

Chỉ thay dầu khi dầu đã bị nhiễm bẩn quá mức, bị thoái hóa và không có khả năng phục hồi. Khi thay dầu mới, nên giữ lại một mẫu dầu cũ để phân tích. Dựa vào kết quả phân tích có thể dự đoán trước các hư hỏng xảy ra, từ đó có những biện pháp xử lý thích hợp để cải thiện tình trạng của hệ thống bôi trơn.

3.      Giám sát tình trạng lưu chất trong công nghiệp hóa học

Trong công nghiệp hóa học, các thiết bị hầu hết là bơm và máy nén. Thông thường dầu được thay do nhiễm bẩn và không có khả năng phục hồi. Dầu trong các hệ thống máy lớn cần được phân tích kỹ trước khi thay. Tuy nhiên, đối với những máy bơm và máy nén nhỏ thì việc thay dầu được thực hiện theo một lịch trình đã được xác định trước.

Sau đây là một số trường hợp điển hình ứng dụng giám sát tình trạng trong công nghiệp hóa học.

Trường hợp thứ nhất

 Sử dụng chương trình phân tích dầu để tính toán cực đại hóa chu kỳ thay dầu trong các máy bơm ly tâm. Kết quả là nâng thời gian thay dầu từ 1 năm lên 2 năm và tiết kiệm được chi phí cho mỗi lần thay dầu.

Trường hợp thứ hai

Áp dụng chương trình giám sát tình trạng dầu nhằm cải thiện độ tin cậy và tuổi thọ của các thiết bị. Những tính chất được giám sát bao gồm: độ nhớt AN, độ pH, số lượng hạt và phân tích từ tính. Kết quả nhận được là kéo dài thời gian mỗi lần thay dầu từ 3 năm lên 5 năm.

4.      Giám sát tình trạng lưu chất trong công nghiệp giấy

Trong công nghiệp giấy có những hộp giảm tốc, bơm và hệ thống thủy lực lớn. Chất bôi trơn trong máy sản xuất giấy (PMOS) sẽ có tuổi thọ từ 5 – 7 năm nếu được giám sát thường xuyên và phục hồi bằng cách tách nước và các hạt nhiễm bẩn.

Những tiêu chuẩn về lượng nước có trong chất bôi trơn PMOS đã được thiết lập trong những năm gần đây. Nhiều nhà máy nghiền tiên tiến đã áp dụng những tiêu chuẩn này và giữ lượng nước có trong dầu dưới 250ppm. Trước đây dầu vẫn được dùng hoặc được phục hồi cho đến khi lượng nước vượt quá 5000ppm.

Phạm Ngọc Tuấn – Nguyễn Văn Hiền

*

*

Top