Nhận diện mối nguy và đánh giá rủi ro theo tiêu chuẩn OHSAS 18001-2007 – Phần 1

I. Khái quát OHSAS 18001:2007 được ban hành vào ngày 01/7/2007 là tiêu chuẩn hệ thống quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp thay thế cho tiêu chuẩn OHSAS 18001:1999.OHSAS 18001 cung cấp các yêu cầu về an toàn sức khỏe nghề nghiệp bao gồm việc phù hợp với luật pháp áp dụng cho hoạt động của đơn vị và các mối nguy đã được đơn vị xác nhận.

Tiêu chuẩn này được áp dụng cho tất cả các đơn vị muốn loại bỏ hoặc giảm thiểu rủi ro cho con người.

Các tổ chức áp dụng hệ thống OHSAS 18001 có trách nhiệm và quyền hạn được xác định rõ ràng, có các mục tiêu để cải tiến, với kết quả đo lường được và phương pháp được xây dựng để đánh giá rủi ro. Điều này bao gồm theo dõi khả năng quản lý an toàn sức khỏe, đánh giá hoạt động và xem xét chính sách và mục tiêu.

– Nhận diện mối nguy, kiểm soát việc xác định và đánh giá rủi ro

– Yêu cầu luật pháp và các yêu cầu khác

– Các chương trình OHS và Mục tiêu

– Nguồn lực, vai trò, trách nhiệm, giải trình và quyền hạn.

– Năng lực, đào tạo và nhận thức

– Giao tiếp, tham gia và tư vấn.

– Kiểm soát thực hiện

– Chuẩn bị và ứng phó với các trường hợp khẩn cấp.

– Đo lường, giám sát và cải tiến việc thực hiện

Tiêu chuẩn OHSAS 18001:2007 Phiên bản mới này phù hợp hơn với các tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 và ISO 14001:2004, với cấu trúc các điều khoản hầu hết theo ISO 14001:2004. Ưu điểm này sẽ khuyến khích việc tích hợp các hệ thống quản lý của một tổ chức như ISO 9001, ISO 14001, OHSAS 18001…

Tiêu chuẩn OHSAS phiên bản 2007 có những thay đổi như sau:

– Tầm quan trọng của “sức khỏe” được đưa ra nhấn mạnh cao hơn so với “an toàn”

– Tập trung vào an toàn nghề nghiệp, không tính đến đối với vấn đề về tài sản, an ninh…

– Thuật ngữ “việc xảy ra bất ngờ” nay được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “tai nạn”.

– Kể cả những hành vi của con người, khả năng và các yêu tố con người khác đều là những nhân tố có thể đem đến các mối nguy cần nhận diện, kiểm soát xác định và đánh giá rủi ro và cuối cùng là năng lực, đào tạo và nhận thức.

– Một yêu cầu mới được giới thiệu đối với việc kiểm soát những người giữ trọng trách là một phần trong kế hoạch OHS.

– Quản lý thay đổi được đưa ra một cách triệt để.

– Điểu khoản “Đánh giá việc tuân thủ” được đưa ra, tương ứng với ISO 14001.

– Những yêu cầu mới được đưa ra cho việc tham gia và tư vấn

– Những yêu cầu mới được giới thiệu cho việc điều tra các tình huống có thể xảy ra

– OHSAS 18001 được nhắc đến như một tiêu chuẩn, không còn là tiêu chí kỹ thuật, hay văn bản, như phiên bản trước đây. Điều này nói lên rằng OHSAS 18001 đã được chấp nhận như nền tảng cho các tiêu chuẩn quốc gia về các hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp.

– Các Định nghĩa mới được thêm vào, bao gồm các vấn đề chính như “tình huống có thể xảy ra”, “rủi ro”, “đánh giá rủi ro”, và chỉnh sửa các định nghĩa hiện tại.

– Thuật ngữ “rủi ro có thể vượt qua” được thay thể bởi thuật ngữ “rủi ro có thể chấp nhận”

– Định nghĩa về thuật ngữ ‘mối nguy’ không nhắc đến “thiệt hại về tài sản hay thiệt hại về môi trường làm việc” nữa. Giờ đây được cân nhắc như “thiệt hại” không trực tiếp đến việc quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp, đó cũng là mục đích của Tiêu chuẩn OHSAS, và điều đó bao gốm cả lĩnh vực về quản lý tài sản. Thay vào đó, các mối nguy gây thiệt hại có ảnh hưởng đến an toàn và sức khỏe nghề nghiệp phải đựơc nhận diện thông qua việc đánh giá các rủi ro trong tổ chức, và được kiểm soát thông qua việc áp dụng cách biện pháp kiểm soát mối nguy thích hợp.

II. Mục đích Trang bị cho mọi người khả năng:

– Biết cách nhận biết các mối nguy

– Hiểu được các khái niệm cơ bản về quản lý rủi ro

III. Các khái niệm cơ bản

3.1. Mối nguy

Các điều kiện và các yếu tố có ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và những người xung quanh liên quan: tổn thương hay bệnh tật (nhà thầu, khách và những người khác tại nơi làm việc)

3.2. Rủi ro

Theo trường phái truyền thống:

Rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến.

Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Tóm lại, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.

Theo trường phái hiện đại:

Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội (lụt-phù sa, núi lửa-dung nham, khai thác bô xít-ô nhiễm môi trường…).

3. 2.1. Định nghĩa

Rủi ro là sự kết hợp giữa khả năng xảy ra của những mối nguy (xác suất xảy ra) và mức độ nghiêm trọng của tổn thương cơ thể hay bệnh tật gây ra do mối nguy này.

– Rủi ro chấp nhận được: là những rủi ro nằm trong giới hạn cho phép theo yêu cầu của luật định (bụi, tiếng ồn… gây bệnh nghề nghiệp, nằm trong giới hạn cho phép).

3.2.2. Phân loại rủi ro

Theo nguồn gốc phát sinh

Rủi ro khách quan: tai nạn, hỏa hoạn, bệnh tật…

Rủi ro chủ quan: hạnh phúc gia đình, nỗi buồn, tương lai…

Theo bản chất

Rủi ro cơ bản: là rủi ro phát sinh ngoài tầm kiểm soát của con người như bão, lụt, động đất…

Rủi ro riêng biệt: là những rủi ro liên quan đến hành vi của con người như hỏa hoạn, trộm cắp, tai nạn giao thông…

Theo quan điểm kinh tế

Rủi ro động: bao gồm rủi ro suy tính và rủi ro đầu cơ như rủi ro quản lý, rủi ro thị trường, đầu tư chứng khoán…

Rủi ro tĩnh hay rủi ro thuần túy: là những rủi ro có thể dẫn đến tổn thất nhưng không đưa đến khả năng kiếm lời như tai nạn giao thông, hỏa hoạn, tai nạn lao động…

Theo tương quan giữa cộng đồng và cá nhân

Rủi ro xã hội: là những rủi ro tác động đến toàn bộ nền kinh tế hay một cộng đồng nào đó như lạm phát, thất nghiệp, chiến tranh và động đất.

Rủi ro ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân: ngược lại với rủi ro xã hội

3.3. Sự cố

Hậu quả xảy ra từ những mối nguy làm ảnh hưởng đến AT-SK NLĐ (tổn thương, bệnh tật).

3.4. Tai nạn

Sự cố đã gây ra hậu quả làm tổn thương cơ thể hay chết chóc.

Số liệu nghiên cứu tỷ lệ các sự cố:

IV. Nhận diện mối nguy

4. 1. Mục đích

Tại sao chúng ta cần nhận diện các mối nguy hiểm?

Hãy đi ngược quá trình xảy ra của một tai nạn để tìm hiểu xem tai nạn đấy được xảy ra và hình thành theo từng trình tự như thế nào. Lúc đó sẽ nhận thấy các tai nạn đều bắt nguồn từ những hành vi mất an toàn.

Các hành vi mất an toàn có thể là nguyên nhân trực tiếp tác động và gây ra tai nạn. Đôi khi những hành vi mất an toàn lại là những nguyên nhân gián tiếp gây ra tai nạn hoặc sự cố. Thông thường những hành vi mất an toàn trực tiếp gây ra tai nạn đều dễ nhận diện. Các hành vi mất an toàn gián tiếp rất khó nhận diện vì chúng tạo ra các mối nguy hiểm, hay môi trường nguy hiểm. Những mối nguy hiểm hay môi trường nguy hiểm này khi được tác động bởi các hành vi mất an toàn sẽ sinh ra tai nạn, sự cố.

 

– Các hành vi mất an toàn đôi khi cũng là nguyên nhân trực tiếp gây ra các tai nạn. Hành vi mất an toàn đôi khi đến từ những yếu tố cá nhân, đôi khi là do thiếu hiểu biết hay nhận thức về rủi ro, đôi khi là do áp lực công việc hoặc các quy trình làm việc tắt. Ví dụ như nhảy từ trên cao xuống, làm việc với nguồn điện không cách ly, tiếp xúc trực tiếp với các loại hóa chất nguy hiểm…

– Các hành vi mất an toàn có thể gây ra các khiếm khuyết, lỗi hay chất lượng tồi cho các loại sản phẩm, thiết bị sử dụng. Những sản phẩm này nếu đưa ra sử dụng thì chúng sẽ tạo ra một môi trường làm việc mất an toàn. Môi trường mất an toàn này sẽ trở nên nguy hiểm nếu như được tác động bởi các yếu tố khác như thời tiết, thiếu kinh nghiệm, làm tắt, vận hành sai quy trình…

– Để ngăn ngừa được các tai nạn rủi ro, phải nhận diện đúng, đủ và rõ ràng các mối nguy hiểm. Các mối nguy hiểm này luôn hiện hữu xung quanh hàng ngày. Nhận diện và đánh giá đúng mức sẽ giúp phòng và tránh được những tai nạn, sự cố ít lường trước.

4.2. Mối nguy hiểm

Bất cứ cái gì, điều gì có thể gây thương tích cho con người, làm hư hỏng tài sản và hủy hoại môi trường đều là mối nguy hiểm.

Các mối nguy hiểm có thể hiện hữu hoặc không hiện hữu. Thông thường các vật dụng hiện hữu xung quanh như đồ dùng, dụng cụ, máy móc.v.v… đều là những mối nguy hiểm. Tuy nhiên vật thể hiện hữu nơi không có sự tác động của con người, thiên nhiên sẽ không nguy hiểm. Nhưng vật đó sẽ trở nên nguy hiểm khi có sự tác động từ các hành vi mất an toàn của con người, hay các tác động ngoài ý muốn từ thiên nhiên.

Nói cách khác tất cả đồ vật thiết bị quanh chúng ta đều là những mối nguy hiểm. Một cái bàn sẽ trở lên nguy hiểm nếu chúng ta đặt nó chắn ngang các lối đi. Một cái xe hơi trở lên nguy hiểm khi được lái bởi người thiếu kinh nghiệm, ảnh hưởng bởi các chất kích thích, chạy với tốc độ cao…

Các hành động mất an toàn cũng là những mối nguy hiểm. Khi chúng ta hành động một cách bất cẩn, cố tình, hay vì một áp lực nào đó. Hành động không an toàn của chúng ta có thể gây nên tai nạn cho chính chúng ta và những người chung quanh chúng ta.

4.2.1. Mức độ ảnh hưởng của các mối nguy hiểm

Khi một sự cố xảy ra, chúng ta thường xem xét về mức độ thiệt hại hoặc ảnh hưởng của nó.

Vậy mức độ thiệt hại này được quyết định bằng cái gì?

Chúng ta hãy hình dung nếu một kho chứa hóa chất hoặc xăng dầu bị hỏa họan sẽ nguy hiểm và thiệt hại lớn hơn một kho chứa gỗ. Một vụ tai nạn giao thông có nhiều người bị nạn sẽ kinh hoàng hơn một vụ va chạm nhẹ. Một đám cháy nhỏ sẽ không nguy hiểm bằng một vụ nổ…

Vậy tất cả những tai nạn với những ảnh hưởng khác nhau kia bắt đầu từ đâu? Chúng đều bắt nguồn từ những mối nguy hiểm, đôi khi những mối nguy hiểm đó được kích thích hay tiếp sức bằng những hành vi mất an toàn.

Mối nguy hiểm tác động như thế nào vào các trường hợp sự cố, tai nạn?

Chúng ta hãy bắt đầu bằng ví dụ với một con dao. Con dao có thể gây ra nguy hiểm như thế nào cho con người, tài sản, và môi trường?

Nói đến con dao hẳn ai trong chúng ta cũng nghĩ ngay đến 2 yếu tố đó là lưỡi dao sắc và mũi dao nhọn. Lưỡi sắc của con dao có khả năng cắt vào tay, chân hay bất cứ bộ phận cơ thể nào của con người. Lưỡi dao cũng có thể cắt hoặc làm rách hay hư hỏng một hay nhiều bộ phận của một thiết bị nào đó. Mũi nhọn của con dao có thể đâm và gây thương tích cho con người, chúng cũng có thể làm thủng hay xuyên hỏng một bộ phận của thiết bị nào đó…

Tóm lại con dao là một dụng cụ rất phổ biến và hữu ích trong cuộc sống hàng ngày, nhưng con dao cũng là một vật vô cùng nguy hiểm nếu như chúng ta sử dụng không đúng cách hoặc cố tình sử dụng nó một cách sai mục đích. Lúc đó con dao sẽ là vật nguy hiểm và gây ra tai nạn cho còn người, làm hư hỏng tài sản..vv. Mức độ tai nạn phụ thuộc vào độ sắc và nhọn của con dao (hình thể, đặc tính của con dao). Lực tác dụng cũng là yếu tố tác động đến mức độ nguy hiểm do con dao đó gây nên.

Một ví dụ khác là khi chúng ta sử dụng và tiếp xúc với nguồn điện. Ngày nay, quanh chúng ta có hàng chục, hàng trăm các thiết bị hữu ích chạy bằng năng lượng điện giúp chúng ta làm việc, giải trí hàng ngày. Do nhu cầu về công năng hay công suất của thiết bị mà chúng được sử dụng bằng các nguồn điện khác nhau, tần số và điện áp khác nhau.

Hẳn ai trong chúng ta cũng biết nguồn điện rất nguy hiểm đối với con người. Khi nguồn điện được truyền qua một bộ phận nào đó của con người. Lúc đó cơ thể chúng ta được coi như là một điện trở trong một mạch điện. Năng lượng của nguồn điện sẽ đốt chết các tế bào, gây lên hiện tượng co giật trước và cháy các tế bào sống sau đó. Nếu cơ thể chúng ta bị tiếp xúc với dòng điện trong một thời gian dài, lúc đó năng lượng của nguồn điện sẽ đốt hết các tế bào và lượng nước trong cơ thể làm chúng ta bị cháy khô đi. Nếu nguồn điện truyền qua cơ thể chúng ta quá lớn, năng lượng của nguồn quá cao thì hiện tượng đốt cháy càng nhanh. Khi tiếp xúc với cơ thể, nguồn điện luôn đi theo một đường ngắn nhất từ nơi có điện áp cao tới điểm có điện áp thấp. Nếu dòng điện đi qua những bộ phận quan trọng của cơ thể như tim, phổi… thì ngay lập tức dòng điện sẽ làm ngưng hoạt động của các cơ quan này và dẫn đến việc tử vong sớm.

Vậy điểm tiếp xúc, thời gian tiếp xúc, điện áp và dòng điện của nguồn điện sẽ là các yếu tố tác động đến hậu quả của tai nạn.

Trên đây chỉ là hai ví dụ về sự tác động và hậu quả gây ra của hai đại diện các mối nguy hiểm đơn giản mà chúng ta nhìn thấy và tiếp xúc hàng ngày.

4.2.2. Nhận diện các hành vi mất an toàn

Thế nào là các hành vi mất an toàn?

Những hành vi của con người mà hậu quả của nó có thể gây ra tai nạn, sự cố hoặc ảnh hưởng tới môi trường xung quanh đều là các hành vi mất an toàn. Các hành vi mất an toàn có thể đến từ các góc độ cá nhân, sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm, áp lực công việc hay tính mạo hiểm của mỗi người.

Một người trèo lên một chiếc thang cũ và hỏng là một hành vi mất an toàn.

Một người lái xe trong trạng thái say xỉn hoặc chịu chi phối bởi các chất kích thích cũng là một hành vi mất an toàn.

Một người quản đốc không hành động hoặc xây dựng môi trường làm việc tốt ở nơi phân xưởng do mình phụ trách cũng là hành vi mất an toàn.

Một người làm công tác quản lý không quan tâm tới các chính sách an toàn cho tổ chức của mình cũng là một hành vi mất an toàn.

Để xác định các hành vi mất an toàn của một người nào đó, chúng ta cần quan sát khi người này đang làm việc, các hành vi mất an toàn được thể hiện ở các trạng thái sau:

– Phớt lờ: phớt lờ, bỏ qua các cảnh báo, báo hiệu hay các thông tin khác về công việc

– Đối phó: dùng những hành động mang tính đối phó, tạo dựng các hiện trường một cách đối phó, tạm bợ mang tính che dấu

– Làm tắt: làm tắt các công đọan, quy trình công việc với mục đích giảm thời gian hay chu trình thực hiện.

– Liều lĩnh: có những người coi việc đưa họ vào các tình huống rủi ro là một sở thích để thể hiện cái “tôi” về một vấn đề nào đó. Họ tự cho mình là đúng và gia trưởng với cái ý nghĩ đó của họ

– Rối loạn: rối loạn trong cách tổ chức, sắp xếp công việc cũng như thực thi các hành động.

– Thụ động: là các hành vi chịu áp lực hoặc chi phối bởi một nhân tố khác.

Các hành vi mất an toàn phụ thuộc vào môi trường làm việc, ý thức người làm việc và đôi khi cũng phụ thuộc vào bản chất, thể trạng của người làm việc. Các hành vi này thông thường không được thể hiện và rất khó phán đoán. Muốn xác định được các hành vi mất an toàn, chúng ta nên tăng cường các biện pháp giáo dục, đào tạo cùng với việc thanh tra, thanh sát thường xuyên khu vực làm việc. Xem xét ý thức và hoạt động của mọi người từ đó đưa ra những chính sách giáo dục, giác ngộ phù hợp.

Nhận diện các mối nguy hiểm như thế nào?

Như chúng tôi đã đề cập ở trên. Các mối nguy hiểm được phân thành hai loại khác nhau.

– Mối nguy hiểm hiện hữu mà chúng ta dễ dàng quan sát được bằng mắt thường tại thời điểm nhận diện.

– Mối nguy hiểm vô hình là các hành vi mất an toàn hoặc môi trường mất an toàn. Môi trường mất an toàn được tạo nên bởi các hành vi mất an toàn tác động nên các vật thể, thiết bị xung quanh môi trường sống và làm việc của chúng ta.

Để nhận diện được các mối nguy hiểm hiện hữu hay vô hình, chúng ta phải tiến hành quan sát kỹ chúng, xem xét khả năng ảnh hưởng của chúng với các hoạt động của chúng ta cũng như những người xung quanh. Quan sát tại thời gian và địa điểm mối nguy hiểm đó hiện hữu. Tiến hành đặt ra các câu hỏi liên quan tới vật thể hay điều kiện mà chúng ta đang quan sát.

Hãy lấy một ví dụ nhỏ bằng việc khi chúng ta đang ngồi đọc tài liệu này thì có những mối nguy hiểm nào hiện hữu hoặc có thể xuất hiện quanh chúng ta?

– Bàn, ghế – Bàn kê không đúng chỗ có thể làm chắn lối đi của chúng ta, cạnh bàn choán gần các lối đi có thể làm chúng ta va hoặc huých phải….

– Màn hình – Màn hình đặt sai vị trí có thể làm cho chúng ta bị mỏi cổ, nếu làm việc trong thời gian dài thì có thể gây nên bệnh thoái hóa cột sống cổ. Nếu đặt màn hình gần hoặc xa quá sẽ ảnh hưởng tới tầm nhìn của mắt…

– Nguồn điện – Nguồn điện sử dụng cho máy tính, các loại máy văn phòng khác nếu không được sử dụng đúng tải, chất lượng dây tồi hay phích cắm sai quy cách sẽ gây nguy hiểm cho quá trình tiếp xúc, sử dụng hoặc chập, cháy…

– Điện thoại bàn – Điện thoại đặt xa tầm với quá làm cho chúng ta luôn phải dướn mỗi khi nhấc máy, dễ làm cho chúng ta dãn dây chằng cơ vai hoặc hông…

– Ly, cốc – Ly, cốc dùng để uống nước, trà hay café không nên để gần cạnh bàn hoặc gần máy tính cũng như các thiết bị điện khác vì nguy cơ vô tình gạt đổ…

– Bút (viết) – luôn được để vào ống chứa hoặc ngăn kéo đề không chúng rơi xuống đất. Rất dễ dàng chúng ta bị trượt té khi dẫm hoặc đạp lên chúng trên sàn nhà…

– Dao, kéo, gim, khay tài liệu – Các vật dụng này phải được để đúng vị trí và trong tình trạng an toàn, các loại dao xén giấy có lưỡi sắc hoặc mũi nhọn phải được bảo vệ kỹ, luôn để riêng từng ngăn và gọn gàng tránh trường hợp bất cẩn va, cắt phải khi lấy những đồ vật khác cạnh đó…

– Ngăn bàn, cửa tủ – Các ngăn bàn, cửa luôn được đóng và cài chốt, các ngăn bàn, cửa tủ không được đóng hoặc chốt sẽ gây nguy hiểm cho việc di chuyển của chúng ta lúc vội hoặc bất cẩn không chú ý…

– Ánh sáng – Ánh sáng phải luôn đủ, không gây chói hoặc hóa…

Bằng những câu hỏi, hình thức suy luận về những điều có thể xảy ra chúng ta nên sử dụng cụm câu hỏi

Điều gì có thể xảy ra, nếu…

4.2.3. Điều kiện xảy ra mối nguy

Trong quá trình nhận diện, luôn đặt vấn đề môi trường và con người lên hàng đầu trong mọi tình huống quan sát và suy xét. Hãy nghĩ đến sự an toàn cho chính bạn và những người xung quanh trước khi tiếp cận một khu vực nào đó hoặc một thiết bị nào đó để nhận diện, đánh giá.

– Hãy quan sát và đặt ra tình huống từ mọi phía (trong, ngoài, trên, dưới, phải, trái…).

– Sự ổn định của vật, hoặc thiết bị gây nguy hiểm phải được xem xét và đánh giá đúng mức.

– Luôn suy xét khả năng dịch chuyển của vật theo quán tính, trọng lực hoặc những dịch chuyển được định hướng. Xem xét kỹ nguồn gốc của động lực tác động hay năng lượng gốc của các hoạt động dịch chuyển hay thay đổi trạng thái.

– Luôn quan sát và tìm hiểu tình trạng bảo vệ an toàn cho vật tại vị trí cân bằng như là các chốt hãm, hệ thống phanh, giá đỡ…

– Xem xét các khả năng tác động của thiên nhiên như, mưa, gió, ánh sáng…

– Các hướng dẫn sử dụng và tem cảnh báo của nhà sản xuất luôn được coi trọng, đề cao trong quá trình nhận diện.

4.2.4. Các loại mối nguy

Một số câu hỏi thường được sử dụng trong quá trình nhận diện rủi ro.

Để nhận biết cụ thể, chi tiết một vậy nào đó, hoặc một điều kiện môi trường nào đó nguy hiểm như thế nào, chúng ta hãy tự đặt các câu hỏi.

Các câu trả lời chính xác, tin cậy phải đến từ những người có kinh nghiệm, các tài liệu hướng dẫn hay các quy định của pháp luật.

Ví dụ chúng ta muốn biết một chiếc máy mài nguy hiểm như thế nào trong quá trình vận hành. Chúng ta hãy bắt đầu quan sát và đặt câu hỏi xem:

– Chiếc máy mài này nguy hiểm như thế nào?

– Chúng gây ra nguy hiểm gì trong quá trình sử dụng.

Có hai loại câu hỏi để hỏi và trả lời. Một là hỏi về những cái chúng ta nhìn thấy, đó là quan sát đặc tính, chi tiết cá bộ phận của thiết bị hiện có để hỏi. Loại câu hỏi thứ hai là quan sát, hoặc tìm hiểu quá trình hoạt động của thiết bị. Cách thức, quy trình sử dụng của người sử dụng. Các động tác, vị trí và tầm ảnh hưởng khi thiết bị đang được sử dụng.

4.2.4.1. Mối nguy vật lý:

– Ồn

– Bức xạ

– Nhiệt độ

– Áp lực công việc, mật độ xe cộ qua lại, độ cao, độ sâu

– Điện (điện thế, năng lượng điện)

– Các tính chất vật lý (sắc, nhọn, nhám, trơn…)

4.2.4.2. Mối nguy hóa học

– Chất nổ

– Chất lỏng cháy

– Chất ăn mòn

– Chất oxy hóa vật liệu

– Chất độc, chất gây ung thư

– Khí

4.2.4.3. Mối nguy sinh học

– Chất thải sinh học (bệnh phẩm, máu…)

– Vius, vi khuẩn

– Ký sinh trùng, côn trùng

– Cây hay động vật có bệnh hay có chất độc hại

4.2.4.4. Mối nguy thể chất

– Thiếu ánh sáng

– Thiếu kiểm soát về nhiệt độ và độ ẩm

– Mức độ công việc (nặng nề, đơn điệu)

– Mối quan hệ với xung quanh (các tổ sản xuất, người quản lý, chủ tàu, giám sát…)

– Sử dụng thuốc trong khi làm việc (cảm, cúm, ho,…)

– Kém động viên để làm việc an toàn (sự quan tâm của lãnh đạo, bạn bè đối với NLĐ)

– Các yếu tố thể chất (sức khỏe, tâm trạng…)

– Trang bị bảo hộ không phù hợp

4.2.5. Các yêu tố liên quan đến mối nguy

4.2.5.1. Con người

NLĐ trực tiếp, người xung quanh, khách, láng giềng…

4.2.5.2. Vật liệu

Vật liệu sử dụng trực tiếp, để gần, chất phát sinh trong quá trình sản xuất…

4.2.5.3. Môi trường

Môi trường làm việc chật, rộng, thoáng, nhiều ánh sáng, gió…

4.2.5.4. Thiết bị

Thiết bị bố trí hợp lý, đầy đủ, an toàn, nguồn năng lượng, sự di chuyển, quá trình vận hành, cách thức thao tác…

4.2.6. Các phương pháp xác định mối nguy

Có nhiều phương pháp để nhận dạng mối nguy:

– Phân tích cây sai hỏng FTA

– Nhận dạng mối nguy HAZID

– Phân tích công việc chủ yếu CTA

– Tuần tra quan sát PO

– Phân tích cây sự cố ETA

– Phân tích tai nạn, sự cố AIA

– Dựa vào báo cáo

4.2.7. Các yếu tố cần xem xét khi chọn phương pháp nhận dạng mối nguy

– Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm

– Phương pháp càng đơn giản càng ít yêu cầu về nguồn lực, thời gian và nhân lực

– Mức độ chính xác của đánh giá rủi ro phụ thuộc vào năng lực của nhóm đánh giá và độ tin cậy của thông tin, dữ liệu

Tuy nhiên dù muốn chọn phương pháp nào đi nữa cũng phải đi hoặc  Từ trên xuống, hoặc đi Từ dưới lên qua các bước.

 

4.2.8. Các bước của quá trình nhận dạng theo cách Phân tích công việc

4.2.9. Bảng nhận định mối nguy

(Còn tiếp)

ST (từ OHSAS)

*

*

Top