MỘT SỐ THIẾT BỊ ĐO RUNG ĐỘNG THÔNG DỤNG: BÚT ĐO RUNG ĐỘNG

Bút đo rung động thường đo giá trị trung bình của rung động bằng mm/s. Giá trị đo của bút dễ bị nhiễu bởi âm thanh, nhất là trong môi trường có mức ồn cao. Bút đo rung động chỉ thể hiện được một hoặc hai giá trị đo, không thể hiện được hàm hay đồ thị biểu diễn rung động nên không thể phát hiện được nguyên nhân gây ra rung động. Ưu điểm của thiết bị này là dễ sử dụng, giá thành thấp và tiện lợi. Sau đây là một số loại bút đo rung động:

Bút đo rung động Sendig – 908s

Thiết bị có thể đo được nhiều mức vận tốc rung động, thể hiện bằng giá trị RMS, dễ sử dụng và tự động tắt khi không làm việc

Hình 1: Bút đo rung động Sendig – 908s

Máy đo rung động cầm tay SPM – VIB 10

Thiết bị này được dùng để đo chu kỳ rung động, kiểm tra tình trạng cân bằng, không đồng trục và nhiều lỗi khác trên máy có chuyển động quay. 

Hình 2: Máy đo rung động cầm tay SPM – VIB 10

Bút đo rung động Vibration Penplus

 

 

Hình 3: Bút đo rung động Vibration Penplus

Thiết bị sử dụng trong hệ thống giám sát rung động để đo rung động và cung cấp dữ liệu cho hệ thống giám sát.

Thiết bị đo được hai loại thông số của rung động là: vận tốc của rung động và sự gia tăng của gia tốc rung động.

 

 

Bảng 1: Đặc tính làm việc của các loại máy

Đo vận tốc rung động được ứng dụng trong trường hợp rung động có tần số từ 101kHz. Từ đó tìm ra nguyên nhân của rung động như: mất cân bằng, không đồng trục, cộng hưởng, bị lỏng thiết bị quay.

Đo sự tăng lên của rung động áp dụng đối với rung động có tần số cao 1030kHz. Thường được ứng dụng để tìm ra nguyên nhân gây ra hư hỏng trên các ổ bi. Bút đo rung động của hãng SKF chủng loại CMVP có hai loại là CMVP40 và CMVP50. Bảng 1 nêu đặc tính làm việc của các loại máy phân loại theo tiêu chuẩn ISO 2372.

Sau đây là đặc tính phân loại máy theo tiêu chuẩn ISO 2372:

Loại I: Bao gồm các máy loại nhỏ như các động cơ và máy riêng lẻ được kết nối với hệ thống giám sát trong điều kiện làm việc đồng thời. Ví dụ điển hình cho loại thiết bị này các động cơ điện có công suất lớn hơn 15kW.

Loại II: Bao gồm các máy có kích cỡ trung bình (điển hình là các động cơ điện có công suất 15 – 75kW) làm việc không đế, vỏ cứng hoặc các máy làm việc khi có đế với công suất trên 300 kW.

Loại III: Bao gồm các máy quay có kích cỡ và khối lượng lớn, làm việc với công suất lớn. Máy được đặt trên nền cứng và chắc theo phương đo rung động.

Loại IV: Bao gồm các máy quay có kích cỡ và khối lượng lớn, làm việc với công suất lớn. Máy được đặt trên nền đàn hồi theo phương đo rung động. Điển hình như máy phát điện bằng tuabin.

Phạm Ngọc Tuấn – Nguyễn Văn Hiền

*

*

Top