CHỈ SỐ KHẢ NĂNG SẴN SÀNG

Chỉ số khả năng sẵn sàng là số đo hiệu quả bảo trì và có thể được xem là số đo khả năng hoạt động của thiết bị mà không xảy ra vấn đề gì. Chỉ số này phụ thuộc một phần vào các đặc tính của hệ thống kỹ thuật và một phần vào hiệu quả của công tác bảo trì.

          Chỉ số khả năng sẵn sàng thể hiện khả năng của thiết bị hoạt động đúng cách bất chấp các hư hỏng và hạn chế xảy ra trong các nguồn lực bảo trì.

          Chỉ số khả năng sẵn sàng bao gồm ba thành phần:

                    – Chỉ số độ tin cậy

                    – Chỉ số hỗ trợ bảo trì

                    – Chỉ số khả năng bảo trì.

1.             Chỉ số hỗ trợ bảo trì

          Chỉ số hỗ trợ bảo trì được đo bằng thời gian chờ trung bình (Mean Waiting Time, MWT) khi máy ngừng. Chỉ số hỗ trợ bảo trì chịu ảnh hưởng của tổ chức và chiến lược từ bộ phận sản xuất và bảo trì.

          Chỉ số hỗ trợ bảo trì thể hiện khả năng của một tổ chức bảo trì, trong những điều kiện nhất định, cung cấp các nguồn lực theo yêu cầu để bảo trì một thiết bị.

2.             Chỉ số khả năng bảo trì

          Chỉ số khả năng bảo trì được đo bằng thời gian sửa chữa trung bình (Mean Time to Repair, MTTR). Thời gian sửa chữa trung bình chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các bản thiết kế thiết bị, nghĩa là nó được xác định tùy thuộc vào giai đoạn thiết kế.

          Chỉ số khả năng bảo trì thể hiện khả năng một thiết bị, trong những điều kiện sử dụng xác định được duy trì hoặc phục hồi lại tình trạng mà nó có thể thực hiện trong những điều kiện nhất định và sử dụng các trình tự và các nguồn lực nhất định.

          Để gia tăng chỉ số khả năng sẵn sàng phải có khả năng gia tăng chỉ số độ tin cậy, giảm chỉ số hỗ trợ bảo trì và chỉ số khả năng bảo trì.

3.             Thời gian ngừng máy trung bình

          Thời gian ngừng máy trung bình (Mean Down Time, MDT) là tổng của chỉ số hỗ trợ bảo trì (MWT) và chỉ số khả năng bảo trì (MTTR). Trong thực tế khó xác định được thời gian chờ đợi và thời gian sửa chữa. Trong trường hợp này người ta sử dụng MDT.

          

 

trong đó:   A    –  chỉ số khả năng sẵn sàng

                    Tup – tổng thời gian máy hoạt động

                    Tdm – tổng thời gian ngừng máy để bảo trì.

4.             Năng suất và chỉ số khả năng sẵn sàng

          Nếu bộ phận bảo trì quản lý đúng phương pháp sẽ giúp năng suất trong quá trình sản xuất gia tăng nhanh chóng. Sản xuất phụ thuộc phần lớn vào năng lực các thiết bị lắp đặt, tuy nhiên chúng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như các tổn thất do bảo trì, các tổn thất chất lượng, chạy không máy, làm ảnh hưởng đến sản xuất và năng suất. Để sử dụng 100% năng lực, thiết bị phải hoạt động liên tục và không được ngừng tại bất kỳ thời điểm nào khi nó đã được lên kế hoạch hoạt động, nghĩa là chỉ số khả năng sẵn sàng phải là 100%. Chỉ số khả năng sẵn sàng càng thấp thì sản lượng càng thấp.

          Công tác bảo trì sẽ ảnh hưởng đến chỉ số khả năng sẵn sàng với một mức độ cao nên năng suất cũng bị ảnh hưởng trực tiếp. Khi đầu tư vào bảo trì, thời gian hoàn vốn để tăng năng suất phải được tính toán. Năng suất tăng làm tăng sản lượng, tăng chất lượng, giảm vốn đầu tư,…

          Khi lập kế hoạch đầu tư vào công tác bảo trì thì yếu tố đầu tiên phải tính toán là tìm ra chỉ số khả năng sẵn sàng sau khi dự án đã thông qua. Yếu tố thứ hai là phải tính toán để tìm ra có bao nhiêu chỉ số khả năng sẵn sàng mới sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng.

Hình 2:  Ảnh hưởng của bảo trì đến năng suất và hiệu quả trong sản suất

          Các hoạt động từ công tác bảo trì sẽ làm gia tăng số % của chỉ số khả năng sẵn sàng, nhờ vậy năng suất sẽ gia tăng và làm lợi nhuận cao hơn.

          Ví dụ: chỉ số khả năng sẵn sàng tăng 1% sẽ cho

                   750 000 USD đối với một nhà máy thép (A = 85 – 90%)

                   90 000 USD đối với một nhà máy giấy (A = 90 – 95%)

                   30 000 USD đối với một xưởng gia công kim loại  (A = 80%)

                   50 000 USD đối với một nhà máy hóa chất (A = 85 – 90%)

                   50 000 USD đối với một nhà máy điện (A = 95 – 99%)

          Một câu hỏi thường gặp là: “Trong nhà máy chúng ta chỉ số khả năng sẵn sàng nên là bao nhiêu?”.

          Câu hỏi này dĩ nhiên không thể trả lời được do yêu cầu về khả năng sẵn sàng của mỗi doanh nghiệp khác nhau. Các số liệu ở bảng 3.1 thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ số khả năng sẵn sàng, thời gian không sẵn sàng và khả năng không sẵn sàng mỗi năm, tháng, ngày. Các con số được tính toán cho việc sản xuất 24 giờ một ngày. Nếu sử dụng các thời gian sản xuất khác phải nhân các con số trong bảng với chỉ số sử dụng.

                   6 giờ một ngày  – chỉ số sử dụng là 0,66.

                   8 giờ một ngày  – chỉ số sử dụng là 0,33.

Bảng 1:  Mối quan hệ giữa các chỉ số khả năng sẵn sàng và thời gian tương ứng


Chỉ số khả năng sẵn sàng, %


Thời gian khôngsẵn sàng, %


Khả năng không sẵn sàng


Năm


Tháng


Ngày

0

100

8760 h

730 h

24 h

50

50

4380 h

365 h

12 h

80

20

1752 h

146 h

4,8 h

90

10

876 h

73 h

2,4

99

1

87,6 h

7,3 h

14,4’

99,9

0,1

8,76 h

43’

1,4’

99,99

0,01

53’

4,3’

8,6’’

99,999

0,001

5,3’

26’’

0,86’’

99,9999

0,0001

32’’

2,6’’

0,086’’

 

5.             Tính toán chỉ số khả năng sẵn sàng

          Phần cơ bản trong quản lý bảo trì là tính toán chỉ số khả năng sẵn sàng. Mỗi việc tính toán kinh tế trong công tác bảo trì phải bắt đầu bằng cách tính toán chỉ số khả năng sẵn sàng để tính toán sự gia tăng, cải tiến trong chỉ số khả năng sẵn sàng bởi các thay đổi được lập kế hoạch.

a.              Các công thức

          – A : chỉ số khả năng sẵn sàng

          – MTBF (thời gian trung bình giữa hai lần hư hỏng) = Độ tin cậy

          – MWT (thời gian chờ đợi trung bình) =  Chỉ số hỗ trợ bảo trì

          – MTTR (thời gian sửa chữa trung bình)  = Chỉ số khả năng bảo trì.

                       

 

trong đó: Tup   – tổng thời gian máy hoạt động (time up for production)

              Tdm – tổng thời gian ngừng máy để bảo trì.

                

trong đó: a – số lần ngừng máy để bảo trì

          Trong thực tế khó thấy sự khác nhau giữa thời gian chờ và thời gian sửa chữa. Trong trường hợp đó thì sử dụng thời gian ngừng máy, có nghĩa là thời gian ngừng máy = thời gian chờ + thời gian sửa chữa.

                     MDT = Tdm/ a (giờ/ lần hư hỏng)


b.              Tính toán

          Phải biết

          – Số giờ sản xuất (Tup)

          – Thời gian ngừng máy để bảo trì (Tdm)

          – Số lần ngừng máy (a).

Ví du: tình trạng hiện tại

Bảng 2:  Đánh giá các hoạt động bảo trì

 

Hiện tại

Hoạt động

Kết quả đánh giá

 Số lần hư hỏng

a = 70

Giám sát tình trạng có hệ thống,

công tác bảo trì và bôi trơn định kỳ

Tốt

a = 30

Chưa tốt

a = 50

MTTR = 0,7 h

 

MWT = 1,6 h

MDT = 2,3 h

– Bảo trì phòng ngừa gia tăng trong

 kế hoạch.

– Hệ thống thực hiện và các thủ tục

 để chuẩn bị và lập kế hoạch.

– Cải thiện tài liệu kỹ thuật.

– Cải thiện thủ kho.

MTTR = 0,7 h

 

MWT = 0,8 h

MDT = 1,5 h

MTTR = 0,7 h

 

MWT = 1,2 h

MDT = 1,9 h

 

c.               Kết quả tốt

                 Tdm = a ´ MDT = 30 ´ 1,5 = 45 h

                 Tup = T – Tdm = 1.100 – 45 = 1.055 h

               lợi nhuận 11% sản xuất + các chi phí bảo trì thấp hơn.

d.              Kết quả chưa tốt

                Tdm = a ´ MDT = 50 ´ 1,9 = 95 h

                Tup  = T – Tdm = 1.100 – 95 = 1.005 h

           lợi nhuận 6% sản xuất + các chi phí bảo trì thấp hơn.

          Sản xuất gia tăng: 6 – 11 %.

                                                                                                              Phạm Ngọc Tuấn – Hoàng Trần Trung Tín

*

*

Top