Các tiêu chí chọn máy để giám sát tình trạng

          Giám sát tình trạng là một quá trình xác định tình trạng của máy móc đang lúc hoạt động hay lúc ngừng hoạt động. Nếu một vấn đề nào đó được phát hiện thì thiết bị giám sát tình trạng sẽ cung cấp cho ta thông tin để xác định xem đó là vấn đề gì và quan trọng hơn, cái gì đã gây ra vấn đề đó. Nhờ vậy chúng ta có thể  lập lịch trình sửa chữa có hiệu quả từng vấn đề cụ thể trước khi máy bị hư hỏng.

          Ngày nay, giám sát tình trạng không chỉ giúp nhân viên nhà máy giảm tố đa khả năng hư hỏng máy móc và cho phép họ đặt hàng trước các bộ phận thay thế, điều độ nhân lực, giảm chi phí tồn kho, lập kế hoạch sửa chữa trong suốt thời gian ngừng máy theo lịch trình, đồng thời cải thiện hoạt động của máy đạt mức tối ưu thường vượt trội hơn so với các đặc điểm kỹ thuật của thiết bị ban đầu.

          Một trong những cách tốt nhất để đạt được điều này là áp dụng chiến lược bảo trì trên cơ sở tình trạng máy. Chiến lược này là một phương pháp tốt nhất để tiến hành bảo trì phòng ngừa nhờ luôn xác định tình trạng thực của máy móc. Chức năng chủ yếu của chiến lược này là cung cấp thông tin về tình trạng máy móc và tốc độ thay đổi tình trạng này để thực hiện công việc phục hồi có kế hoạch nhằm tránh tổn thất, phế phẩm, vận hành máy đúng kỹ thuật, không an toàn và dễ gây tai nạn.

Hình 1:  Giám sát tiếng ồn ổ trục

          Một nghiên cứu gần đây của chính phủ Anh đã cho thấy rằng nền công nghiệp tiết kiệm khoảng 1,3 tỉ đô la mỗi năm nhờ áp dụng chiến lược bảo trì giám sát tình trạng máy. Người ta xác định rằng cứ tăng 5% khả năng sẵn sàng của máy thì có thể tăng 30% năng suất. Hải quân Canada đã báo cáo rằng toàn bộ chi phí bảo trì của một đội 20 chiếc tàu khu trục đã giảm được 45% (trung bình mỗi tàu đã tiết kiệm được 100.000 đôla mỗi năm) nhờ áp dụng bảo trì giám sát tình trạng. Một nghiên cứu khác ở Anh trên một tàu chở dầu đã cho thấy kết quả trong vòng 12 tháng kể từ khi bắt đầu áp dụng chương trình giám sát tình trạng đã giảm 37% chi phí trong công tác bảo trì. Trong ngành công nghiệp hóa dầu ở đây, chi phí bảo trì cũng hạ xuống khoảng 9 -10 đôla/HP/năm nhờ thay đổi chiến lược bảo trì từ hoạt động cho đến khi hư hỏng sang bảo trì trên cơ sở tình trạng.

          Chi phí bảo trì trực tiếp trong các ngành công nghiệp khác nhau trung bình là 4% của các tài sản cố định, thay đổi từ 2,6% đối với ngành công nghiệp dầu mỏ đến 8,6% đối với ngành công nghiệp luyện thép. Nếu cộng thêm ước lượng khoảng 4% chi phí tổn thất sản xuất do ngừng máy, thì tổng cộng 8% giá trị tài sản cố định bị mất đi mỗi năm. Vì vậy một điều chắc chắn rằng một chiến lược bảo trì tối ưu được áp dụng trong công nghiệp sẽ có thể tiết kiệm được một khoảng tiền rất lớn.

          Chiến lược bảo trì tối ưu là phải tiếp cận đến chiến lược bảo trì trên cơ sở tình trạng máy, ở đó công việc giám sát tình trạng được dùng để xác định tình trạng của máy móc và nhờ vậy dừng máy để sửa chữa trước khi hư hỏng xảy ra.

          Khi các hư hỏng xảy ra sẽ làm thay đổi các đặc tính vật lý của thiết bị. Vì vậy cần phải thu thập và phân tích các thông số kỹ thuật của  máy móc, thiết bị để có thể dự đoán các hư hỏng của các bộ phận trước khi chúng xảy ra. Những thông số này được gọi là thông số dự đoán và hình thành trên cơ sở bảo trì dự  đoán, cũng còn được gọi là bảo trì phòng ngừa dự đoán (preventive maintenance), hoặc bảo trì tích cực (proactive maintenance) hay thường hơn là bảo trì trên cơ sở tình trạng. Những thông số này cung cấp thông tin về tình trạng của máy móc để dự đoán được các hư hỏng ở giai đoạn đầu và từ đó có thể lập kế hoạch bảo trì đúng đắn. Điều này giúp cho việc tối thiểu tổn thất về năng suất, giảm chi phí đầu tư, chi phí bảo trì trực tiếp và cho phép các chức năng của bảo trì được tiến hành một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, để đạt kết quả tốt nhất thì ta phải lựa chọn thích hợp các máy móc, thiết bị để áp dụng bảo trì giám sát tình trạng và áp dụng các phương pháp giám sát tốt nhất cho các máy đã chọn là những vấn đề hàng đầu cần quan tâm.

          Hiện nay người ta có thể chọn máy để giám sát tình trạng theo một số tiêu chí sau đây:

1. Chọn máy theo tổn thất năng suất

          Quy mô của quá trình sản xuất trong nhà máy hay phân xưởng lớn hay nhỏ cũng cần lập nên một lưu đồ về quá trình sản xuất để cho biết cách thức của các máy khác nhau được liên kết với nhau trong quá trình chuyển đổi sản phẩm. Các máy gây nên tổn thất năng suất cao thường là các loại máy:

          – Hoạt động liên tục.

          – Liên quan với  một quá trình đơn lẻ.

          – Có năng lực song song hay dự phòng nhỏ nhất.

          – Có năng lực dự trữ sản phẩm trung gian tối thiểu.

          – Có liên quan với chức năng chuyển giao hay vận chuyển sản phẩm có tính quyết định.

2. Chọn máy trên cơ sở thiệt hại gây ra do hư hỏng

          Cần phải áp dụng kỹ thuật giám sát tình trạng đối với những máy khi hư hỏng gây ra tổn thất sản lượng đáng kể, hay rất đắt tiền hoặc khó thay thế, những máy có mức độ hư hỏng trực tiếp cao thường:

          – Hoạt động ở áp suất, nhiệt độ hoặc hiệu điện thế cao.

          – Điều khiển các lưu chất truyền lực nguy hiểm.

          – Có những bộ phận có quán tính và tốc độ cao.

3. Chọn máy trên cơ sở an toàn

          Ngoài những yếu tố kinh tế, những máy nào có liên quan đến an toàn cũng cần được giám sát. An toàn này có thể phát sinh do:

          – Máy phát nổ.

          – Các vật liệu nguy hiểm văng ra do hư hỏng.

          – Máy dùng cho vận chuyển sản phẩm.

          Ngoài yếu tố thứ ba, máy nào có rủi ro đặc biệt về an toàn thường cùng loại với các máy có chi phí trực tiếp cao về tổn thất do hư hỏng.

4. Nên chọn những bộ phận nào để giám sát trong các máy đã được chọn

          Nếu không có kinh nghiệm về các dạng hư hỏng của một máy, và nếu các máy này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất thì cần phải giám sát tình trạng của tất cả các bộ phận chủ yếu đang chuyển động, và thậm chí một hay hai bộ phận đang đứng yên, trong một vài trường hợp, các bộ phận cần giám sát sẽ có hiệu quả nhất thường là:

          – Có tính nghiêm trọng về độ tin cậy của máy móc.

          – Thực hiện một chế độ làm việc cao.

          – Có thời gian thay thế dài.

          – Những máy có tuổi thọ thấp hơn tất cả các máy còn lại.

Phạm Ngọc Tuấn – Nguyễn Văn Hiền

*

*

Top